Chiến lược phát triển

Chiến lược phát triển Trung tâm Giáo dục Quốc phòng-An ninh, Đại học Quốc gia Hà Nội đến năm 2012, tầm nhình 2030

 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG - AN NINH

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN 2030

I. SỨ MỆNH, TẦM NHÌN, GIÁ TRỊ CỐT LÕI, BỐI CẢNH, QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN

1.1. Sứ mệnh

          Trung tâm Giáo dục Quốc phòng-An ninh (GDQP-AN), Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) là đơn vị trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Sứ mệnh của Trung tâm là đơn vị đào tạo có uy tín với trình độ và chất lượng cao về sản phẩm đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực GDQP-AN, là cơ quan tham mưu đắc lực cho ĐHQGHN về công tác QP-AN, góp phần xây dựng và củng cố tiềm lực quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân trên địa bàn.

1.2. Tầm nhìn

          Trở thành một Trung tâm mạnh, có uy tín và vị thế hàng đầu của cả nước về quy mô và chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học (NCKH), tạo dấu ấn trong công tác đào tạo giáo viên GDQP-AN trình độ đại học vào năm 2018, trình độ sau đại học năm 2023, đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của Bộ GD&ĐT và ĐHQGHN, một địa chỉ tin cậy cung cấp nguồn nhân lực cho các cơ sở giáo dục khu vực phía Bắc.

1.3. Giá trị cốt lõi

          • Kỉ cương.

          • Chất lượng cao.

          • Chuyên nghiệp.

          • Trách nhiệm và môi trường thân thiện.

1.4. Bối cảnh

1.4.1. Bối cảnh chung

Tình hình thế giới và khu vực: Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng sẽ có những diễn biến phức tạp mới, tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường, trong đó có khu vực Đông Nam Á còn tồn tại nhiều nhân tố gây mất ổn định, tranh chấp lãnh thổ, biển đảo ngày càng gay gắt.

 Tình hình trong nước: Các thế lực thù địch vẫn ráo riết chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, chủ yếu bằng chiến lược “diễn biến hoà bình” và bạo loạn lật đổ, nhằm xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chuyển hoá cách mạng nước ta đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Các hành động xâm hại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nước ta vẫn tiếp diễn dưới nhiều hình thức, với âm mưu và thủ đoạn hết sức tinh vi.

Quan điểm của Đảng, Nhà nước: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Tăng cường quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân”. Vì vậy, giáo dục, bồi dưỡng kiến thức QP-AN cho các đối tượng, đặc biệt là GDQP-AN cho học sinh, sinh viên là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Chủ trương của ĐHQGHN: Ngày 29/9/2009, Thường vụ Đảng ủy ĐHQGHN đã có Kết luận số 196/KL-ĐU của về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng nhằm đẩy mạnh triển khai công tác QP-AN trong ĐHQGHN, hàng năm, lãnh đạo ĐHQGHN đều xây dựng kế hoạch cụ thể về thực hiện công tác QP-AN, trong đó đặc biệt chú trọng đến công tác GDQP-AN cho học sinh, sinh viên.

Trung tâm GDQP-ĐHQGHN được thành lập theo Quyết định số 97/QĐ-TCCB ngày 02/3/2004 của Giám đốc ĐHQGHN trên cơ sở sáp nhập hai khoa GDQP của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHKHXH&NV) và Đại học Ngoại ngữ (ĐHNN) thuộc ĐHQGHN. Thực hiện Nghị định số 116/2007/NĐ-CP ngày 10/7/2007 của Chính phủ về GDQP-AN và Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm GDQP-AN sinh viên (Ban hành kèm theo Quyết định số 82/2007/QĐ-BGDĐT ngày 24/12/2007 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT), ngày 11/5/2009, Giám đốc ĐHQGHN kí Quyết định đổi tên Trung tâm GDQP thành Trung tâm GDQP-AN, ĐHQGHN.

1.4.2. Điểm mạnh   

Trung tâm GDQP-AN đã có bề dày kinh nghiệm trong công tác GDQP-AN cho học sinh, sinh viên, uy tín và vị thế của Trung tâm trong ĐHQGHN cũng như trong hệ thống Trung tâm GDQP-AN của cả nước đã được khẳng định. Tổ chức bộ máy của Trung tâm ổn định, tinh gọn, hiệu quả, hoạt động nền nếp, nhiều mặt hoạt động đã đi vào chiều sâu. Hệ thống văn bản quản lí hành chính đã từng bước được hoàn thiện.

Trình độ đội ngũ cán bộ, viên chức và sĩ quan biệt phái (SQBP) được nâng lên (đến nay có 03 Thạc sĩ; 01 NCS và 03 học viên cao học, 05 cán bộ đăng kí dự thi cao học). Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, quản lí từng bước được cải thiện, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ được giao.

1.4.3. Điểm yếu                                                                   

Quy chế của Bộ Giáo dục&Đào tạo (GD&ĐT) quy định GDQP-AN chỉ là môn học điều kiện để xét tốt nghiệp, làm cho một số cán bộ lãnh đạo của các đơn vị và một bộ phận sinh viên hiểu chưa đầy đủ về vị trí môn học, từ đó chưa thực sự quan tâm đúng mức tới môn học. Nghị định 165/2004/NĐ-CP của Chính phủ về SQBP quy định về thời hạn biệt phái ngắn dẫn đến công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng gặp khó khăn.

Đội ngũ cán bộ còn thiếu về số lượng, học vị còn thấp so với mặt bằng trong ĐHQGHN, đặc biệt là còn thiếu đội ngũ giảng viên chuyên môn sâu. Đây là thách thức lớn đặt ra cho Trung tâm trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Trước mắt, từ nay đến khi chuyển lên hoạt động tại Hoà Lạc, Trung tâm gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất (CSVC). Bên cạnh đó, sức ép về kế hoạch đào tạo lớn, thường dồn vào đầu hoặc cuối hè làm cho Trung tâm khó chủ động, khó đáp ứng được với yêu cầu của môn học.   

1.4.4. Cơ hội

Công tác GDQP-AN luôn được Đảng, Nhà nước, Bộ GD&ĐT, ĐHQGHN và đơn vị quản lí sĩ quan biệt phái quan tâm. Khi Luật Giáo dục quốc phòng-an ninh được ban hành và có hiệu lực sẽ tạo hành lang pháp lí quan trọng cho hoạt động của Trung tâm ngày càng ổn định và phát triển.

Nhu cầu đào tạo trong xã hội ngày càng lớn, đặc biệt là vị thế và thương hiệu của ĐHQGHN ngày càng được khẳng định, từ đó tạo cho Trung tâm nhiều cơ hội phát triển. Đề án đào tạo giáo viên GDQP-AN đã được triển khai thực hiên ở một số cơ sở đào tạo, đây là điều kiện tốt không chỉ để Trung tâm có thêm cơ hội mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo mà còn có điều kiện để lựa chọn nhân lực chất lượng cao cho công tác quản lí và giảng dạy GDQP-AN.

Khi cơ sở tại Hoà Lạc hoàn thành, Trung tâm sẽ có một cơ ngơi hiện đại, đội ngũ cán bộ mạnh với chất lượng cao, đây là điều kiện thuận lợi nhất để Trung tâm thực hiện đầy đủ sứ mệnh, mục tiêu của mình.

1.4.5. Thách thức

Nghị định 116/2007/NĐ-CP ngày 10/7/2007 của Thủ tướng chính phủ làm cho đội ngũ SQBP về công tác tại Trung tâm bị hạn chế, dẫn đến tình trạng thiếu hụt đội ngũ cán bộ, giảng viên, đặc biệt là đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm và chuyên môn sâu.

Tiến độ hoàn thành dự án xây dựng Trung tâm tại Hòa Lạc chậm, cơ sở vật chất và điều kiện đảm bảo cho các hoạt động trong giai đoạn đầu sẽ còn gặp nhiều khó khăn, do vậy gây trở ngại lớn trong việc thu hút các đối tác liên kết.

1.5. Quan điểm phát triển

Kỉ cương: Thực hiện văn hóa trong môi trường giáo dục đại học, mỗi cán bộ, giảng viên, học sinh, sinh viên tự giác chấp hành pháp luật nhà nước, các quy định của ĐHQGHN và đơn vị, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo.

Chất lượng: Thực hiện văn hóa chất lượng trong các hoạt động của Trung tâm, xây dựng văn hoá chất lượng gắn liền với đảm bảo chất lượng dạy, học và NCKH, coi chất lượng và quản lí chất lượng là giá trị cốt lõi.

Hợp tác: Hợp tác tốt với các đối tác trong, ngoài ĐHQGHN có liên quan đến công tác GDQP-AN, hạn chế tối đa các thủ tục hành chính để giải quyết tốt các mối quan hệ.

Phát triển bền vững: Phát triển Trung tâm không chỉ đáp ứng và thỏa mãn tốt các yêu cầu nhiệm vụ trước mắt mà còn phải tích cực, chủ động tích lũy các giá trị cần thiết để đáp ứng được quá trình phát triển của sự nghiệp đổi mới giáo dục nói chung và chiến lược phát triển của ĐHQGHN nói riêng. Tranh thủ và phát huy tối đa các nguồn lực, trong đó dựa vào nội lực là chính để nâng cao vị thế, uy tín của Trung tâm trong phạm vi cả nước.

II. MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC

2.1. Mục tiêu chung

Kết hợp mở rộng quy mô với nâng cao chất lượng đào tạo, NCKH, đặc biệt là nhiệm vụ đào tạo giáo viên GDQP-AN trình độ đại học và sau đại học. Chú trọng xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lí chất lượng cao, CSVC hiện đại.

2.2. Mục tiêu cụ thể     

2.2.1. Đào tạo

          Sinh viên sau khi hoàn thành chương trình GDQP-AN có chuyển biến căn bản về nhiều mặt, đặc biệt là nhận thức về QP-AN, tác phong học tập, ý thức tổ chức kỉ luật, tinh thần trách nhiệm, tầm nhìn và kĩ năng sống. Sinh viên đào tạo hệ giáo viên phải đạt chuẩn đầu vào và đầu ra theo quy định của Bộ GD&ĐT và ĐHQGHN.

Đội ngũ cán bộ giảng dạy và quản lí đạt chuẩn theo quy định. Khai thác tối đa ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, kiểm tra đánh giá và quản lí đào tạo.

2.2.2. Nghiên cứu khoa học và công nghệ

Thay đổi một cách căn bản về nhận thức của cán bộ, đặc biệt là đội ngũ giảng viên trong thực hiện nhiệm vụ NCKH, coi đây là một trong những nhiệm vụ không thể thiếu của mỗi giảng viên.

Ưu tiên đầu tư kinh phí cho hoạt động NCKH, chú trọng đến chất lượng các đề tài nghiên cứu, đảm bảo cho công tác NCKH từng bước đi vào chiều sâu, đáp ứng tốt mục tiêu, yêu cầu đào tạo, phù hợp với tình hình thực tiễn của Trung tâm.

2.2.3. Công tác tổ chức cán bộ

         Kiện toàn cơ cấu tổ chức theo Quy định của Bộ GD&ĐT về Trung tâm GDQP-AN sinh viên, phù hợp với thực tiễn của ĐHQGHN.

         Phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên có trình độ, năng lực quản lí, giảng dạy và NCKH, đáp ứng tốt yêu cầu đào tạo giáo viên trình độ đại học và sau đại học chuyên ngành GDQP-AN.

Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, năng lực chuyên môn sâu, quản lí giỏi đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển Trung tâm.

2.2.4. Xây dựng và chuẩn hóa các mặt hoạt động của công tác Giáo dục Quốc phòng-An ninh cho sinh viên tại Hòa Lạc

Đổi mới quản trị đại học, chuẩn hóa các khâu trong quy trình tổ chức, quản lí đào tạo, quan tâm đến từng điều kiện để đảm bảo chất lượng. Hoàn thiện kế hoạch chuyển đổi theo phương thức đào tạo tập trung tại Hòa Lạc với các đơn vị đào tạo, bảo đảm để sinh viên được học tập, rèn luyện, thể dục thể thao, giải trí, nghỉ ngơi tốt nhất.

Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lí có tính chuyên nghiệp cao, có khả năng hợp tác tốt trong tổ chức triển khai và thực hiện nhiệm vụ.

2.2.5. Cơ sở vật chất

Xây dựng Trung tâm GDQP-AN có một hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật đồng bộ, hiện đại tại Hòa Lạc, đáp ứng tốt nhất nhiệm vụ giáo dục toàn diện cho sinh viên, đặc biệt hoàn thành tốt nhiệm vụ đào tạo giáo viên GDQP-AN.

Đầu tư hợp lí hệ thống trang thiết bị kĩ thuật, giáo trình, tài liệu tham khảo, sân bãi tập thực hành phục vụ công tác đào tạo và NCKH.

2.2.6. Tạo nguồn lực để phát triển bền vững

Tranh thủ và phát huy tối đa mọi nguồn lực, trong đó phát huy nguồn lực con người là khâu then chốt, chú trọng sử dụng hiệu quả nguồn tài chính được cấp từ ngân sách nhà nước và tạo nguồn lực tài chính ngoài ngân sách nhà nước ổn định, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và phát triển của Trung tâm.

Nguồn lực tài chính phải được phát triển theo hướng đa dạng hóa và bền vững, hiệu quả thông qua tăng cường, mở rộng hợp tác với các đối tác và khai thác tối đa nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ tại Hòa Lạc, đảm bảo nguồn thu ngoài ngân sách nhà nước tăng từng năm. Tích lũy nguồn tài chính dồi dào, ổn định, đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển bền vững của Trung tâm.

2.3. Các chỉ tiêu chiến lược

2.3.1. Đào tạo

          Ngoài các đơn vị liên kết đào tạo theo phân luồng của Bộ GD&ĐT hiện nay, tăng cường và mở rộng các đơn vị đối tác, nâng số lượng sinh viên từ 15.000-17.000 lượt sinh viên/năm, xây dựng 2-3 đối tác liên kết chiến lược.

          Tuyển sinh đào tạo giáo viên GDQP-AN là 80 sinh viên/khóa học. 100% sinh viên đào tạo giáo viên tốt nghiệp đạt chuẩn đầu ra, trong đó 30% sinh viên ra trường tốt nghiệp giỏi và xuất sắc.

2.3.2. Nghiên cứu khoa học và công nghệ

100% giảng viên đăng kí tham gia NCKH. Số lượng đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trung tâm: 2-3 đề tài/năm; 1-2 sáng kiến cải tiến/năm; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ĐHQGHN và cấp Bộ: 01 đề tài/3năm; Bài báo được đăng trên tạp chí ngành, tạp chí ĐHQGHN và tạp chí Quốc phòng toàn dân: 03 bài/năm; Biên soạn đủ tài liệu tham khảo phục vụ công tác đào tạo giáo viên GDQP-AN.

Thực hiện tốt việc công bố kết quả NCKH và các hội thảo chuyên môn trên Website của Trung tâm.

2.3.3. Công tác tổ chức cán bộ

Kiện toàn cơ cấu tổ chức của Trung tâm, thành lập Phòng Hậu cần-Kĩ thuật và Phòng Công tác Chính trị học sinh sinh viên.

Đến năm 2020: Tổng số cán bộ, viên chức, sĩ quan biệt phái là 60 người, trong đó có 40 cán bộ cơ hữu và sĩ quan biệt phái, 20 cán bộ hợp đồng lao động. Tỉ lệ cán bộ giảng dạy có học vị Thạc sĩ đạt trên 60%, học vị Tiến sĩ 3%.

Đội ngũ cán bộ, giảng viên đạt chuẩn, trong đó có 30% số cán bộ giảng dạy, quản lí đủ điều kiện tham gia nhiệm vụ chiến lược của ĐHQGHN, có năng lực quản trị đại học.

2.3.4. Hoàn thiện mô hình Giáo dục Quốc phòng - An ninh cho sinh viên tại Hòa Lạc

          Hoàn thiện mô hình, phương thức đào tạo tập trung, đảm bảo cho người học được ăn ở, học tập, rèn luyện, sinh hoạt và vui chơi giải trí sát với môi trường quân đội, chú trọng đến các hoạt động ngoại khóa cho sinh viên.

Thực hiện quy trình đào tạo tại Hòa Lạc theo phương thức khép kín (xây dựng kế hoạch đào tạo với các đơn vị; nhận bàn giao sinh viên; quản lí, giáo dục, rèn luyện sinh viên tại Trung tâm; bàn giao sinh viên và kết quả học tập cho các trường).

2.3.5. Cơ sở vật chất

          Các hạng mục xây dựng đồng bộ, sử dụng hiệu quả, đảm bảo cùng lúc phục vụ cho khoảng 1.500 sinh viên ăn ở, học tập và sinh hoạt tập trung. Chú trọng phát triển các loại hình dịch vụ phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của sinh viên, giúp sinh viên yên tâm học tập và rèn luyện.

          Hệ thống thiết bị, học liệu đảm bảo đúng, đủ, hiện đại theo quy định của Bộ GD&ĐT. Xây dựng hệ thống thư viện điện tử phục vụ cho học tập, nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên và sinh viên. Đầu tư 02 phòng học chuyên dụng với các thiết bị mới, hiện đại phục vụ cho công tác đào tạo giáo viên GDQP-AN; 04 phòng máy tính với số lượng 40 máy/phòng để khai thác tư liệu và phục vụ công tác kiểm tra đánh giá kết quả môn học đối với các nội dung lí thuyết.

Trang bị đầy đủ phương tiện vận chuyển, vận tải phục vụ đưa đón cán bộ và cứu thương cứu nạn.

2.3.6. Tạo nguồn lực để phát triển bền vững

          Phát triển Trung tâm xứng với vị thế và tầm vóc của một Trung tâm lớn hàng đầu trong hệ thống các Trung tâm GDQP-AN của cả nước, thu hút được đội ngũ cán bộ giỏi về công tác và học sau đại học tại Trung tâm.

Phát huy cơ chế tự chủ của đơn vị trong ĐHQGHN, chủ động tìm kiếm việc làm và có kế hoạch tăng nguồn thu ngoài ngân sách nhà nước đạt tỉ lệ 70% tổng ngân sách của Trung tâm.

III. CÁC GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC

3.1. Công tác chính trị, tư tưởng

Nâng cao vai trò lãnh đạo của các tổ chức Đảng, sự năng động, sáng tạo của các đơn vị, các tổ chức đoàn thể nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tạo sự đồng thuận và tinh thần cộng đồng trách nhiệm trong toàn thể cán bộ, viên chức, sinh viên nhằm thực hiện thành công chiến lược phát triển của Trung tâm.

Phát huy giá trị cốt lõi, giá trị truyền thống, tính chủ động, sáng tạo của đơn vị; tạo động lực và cơ hội phấn đấu cho mỗi giảng viên, cán bộ quản lí và sinh viên, qua đó tôn vinh những tập thể và cá nhân có nhiều đóng góp cho sự phát triển bền vững của Trung tâm. Xây dựng văn minh công sở, thể hiện đậm đà văn hóa quân sự trong môi trường đại học để mỗi cán bộ, viên chức có cơ hội phấn đấu tự hoàn thiện mình tốt nhất.

Đổi mới, cải tiến công tác thi đua, khen thưởng, có chính sách đãi ngộ thỏa đáng cho những tập thể và cá nhân có nhiều đóng góp cho Trung tâm, đặc biệt khuyến khích xứng đáng đối với cán bộ có thành tích hoạt động khoa học, công nghệ xuất sắc, tránh thực hiện chế độ, chính sách theo kiểu cào bằng.

Đẩy mạnh thực hiện các cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Nói không với bệnh thành tích” và “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”.

3.2. Công tác tổ chức cán bộ

Xây dựng kế hoạch tổng thể phát triển đội ngũ cán bộ trong Trung tâm và cụ thể đến từng đơn vị với các tiêu chí rõ ràng, công khai minh bạch. Hàng năm có kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn đảm bảo quy mô hợp lí, cơ cấu đồng bộ về chuyên môn, trình độ, độ tuổi và giới tính, có tính kế thừa và phát triển. Ưu tiên cán bộ trẻ có phẩm chất đạo đức, năng lực và tinh thần trách nhiệm tốt đi đào tạo sau đại học để phát triển đội ngũ cán bộ chuyên môn sâu, đảm bảo đủ nhân lực thực hiện nhiệm vụ đào tạo giáo viên GDQP-AN trình độ Cử nhân và Thạc sĩ.

Xây dựng đề án danh mục vị trí việc làm theo nhiệm vụ và giai đoạn. Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lí trên cơ sở phân tích các nguồn lực sẵn có của Trung tâm, khả năng đảm bảo của ĐHQGHN và khả năng phối hợp của Trường Sĩ quan Lục quân 1, đảm bảo bộ máy tinh gọn, hiệu quả, sát tình hình thực tiễn của Trung tâm và của ĐHQGHN. Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các phòng chức năng, các khoa đào tạo đảm bảo cho bộ máy hoạt động hiệu quả cao nhất. Thực hiện nguyên tắc thống nhất chỉ huy theo hệ thống dọc, mỗi cấp dưới chịu sự chỉ huy của một cấp trên trực tiếp, đảm bảo phát huy tối đa vai trò quản lí điều hành và trách nhiệm của các cấp trong Trung tâm.

Hoàn thiện cơ cấu tổ chức, quản lí công tác GDQP-AN, bố trí, sắp xếp, luân chuyển cán bộ theo năng lực, sở trường và đáp ứng tốt yêu cầu công việc. Phát huy tối đa nguồn cán bộ biệt phái từ Trường Sĩ quan Lục quân I, tăng cường liên kết với các học viện, nhà trường quân đội trên địa bàn để khai thác nguồn lực chất lượng cao phục vụ công tác đào tạo. Chủ động phát triển, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ hữu, tuyển dụng những sinh viên tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc của các khóa đào tạo giáo viên GDQP-AN về giảng dạy tại Trung tâm.

Gắn nhiệm vụ nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác với việc đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ năm học của mỗi giảng viên, cán bộ, viên chức, áp dụng các chính sách mang lại cơ hội phát triển và cống hiến cho cán bộ, giảng viên.

Phối hợp chặt chẽ với các ban chức năng của ĐHQGHN; Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội tổ chức bồi dưỡng kiến thức QP-AN cho các đối tượng 3; 4 và 5 trong ĐHQGHN; tham mưu cho lãnh đạo ĐHQGHN về công tác GDQP-AN và công tác quốc phòng, quân sự địa phương.

3.3. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học

Đổi mới căn bản phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá, kết hợp chặt chẽ giữa trang bị kiến thức với rèn luyện ý thức tổ chức kỉ luật, tầm nhìn, năng lực và kĩ năng sống cho người học. Hàng năm tổ chức điều tra xã hội học (XHH) để tiếp nhận ý kiến phản hồi từ sinh viên.

Đổi mới công tác quản lí đào tạo, áp dụng công nghệ hiện đại vào giảng dạy, luôn cập nhật thông tin kịp thời, đảm bảo đủ đề cương môn học, giáo trình, tài liệu tham khảo phục vụ cho dạy học và nghiên cứu. Mở rộng quan hệ hợp tác với các trung tâm đào tạo, các học viện, nhà trường quân đội để trao đổi và học tập kinh nghiệm, đáp ứng yêu cầu phát triển.

Xác định nhiệm vụ NCKH là một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ của mỗi cán bộ và đơn vị, đặc biệt là các khoa đào tạo. Có chính sách khuyến khích thỏa đáng với những đề tài, những sản phẩm nghiên cứu có giá trị ứng dụng cao.

3.4. Thúc đẩy tiến độ đào tạo giáo viên Giáo dục quốc phòng-an ninh

          Chủ động chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết như: chương trình đào tạo, CSVC, học liệu và các nguồn lực cho nhiệm vụ đào tạo giáo viên vào năm 2018.

          Mở mã ngành đào tạo giáo viên GDQP-AN, đề nghị Bộ GD&ĐT giao chỉ tiêu tuyển sinh theo đúng kế hoạch và tiến độ thời gian.

3.5. Hoàn thiện và chuẩn hóa hệ thống văn bản

Thống kê, bổ sung các văn bản phục vụ công tác quản lí, điều hành mọi hoạt động của Trung tâm. Tăng cường tính pháp chế khi ban hành các văn bản.

Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, thực hiện chuẩn hóa công tác lưu trữ và khai thác văn bản. Hệ thống văn bản quản lí được đưa lên Website của Trung tâm.

Khuyến khích cán bộ, viên chức và các đơn vị chủ động tham mưu, dự thảo và đề xuất ban hành văn bản quản lí thuộc lĩnh vực mình phụ trách, coi đây là một tiêu chí đánh giá năng lực quản lí của cán bộ.

3.6. Hoàn thiện bộ máy quản lí theo hướng đổi mới quản trị đại học, xây dựng văn hoá chất lượng và đánh giá sản phẩm theo chất lượng đầu ra

Thực hiện phân cấp quản lí, phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tính chủ động, sáng tạo của các đơn vị, sử dụng có hiệu quả các nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng đào tạo, NCKH đáp ứng yêu cầu của xã hội.

Áp dụng phương pháp quản trị đại học tiên tiến trên lĩnh vực đào tạo, kiểm định chất lượng, hoạt động khoa học công nghệ, quản trị nguồn nhân lực, kế hoạch tài chính và cải cách hành chính, áp dụng triệt để công nghệ thông tin và truyền thông trong mọi hoạt động.

3.7. Hiện đại hóa cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, tăng cường cơ chế tự chủ tài chính và khai thác tối đa các nguồn lực

Tiếp tục xây dựng đề án, đề nghị bổ sung ngân sách để hoàn thiện các hạng mục công trình đảm bảo phù hợp với hoạt động đặc thù của Trung tâm. Đầu tư mới hệ thống trang thiết bị dạy học hiện đại, hệ thống thao trường bãi tập xoay vòng đồng bộ, hiện đại hóa cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin. Quản lí và khai thác có hiệu quả các hạng mục công trình và hệ thống thiết bị được đầu tư.

Thực hiện có hiệu quả cơ chế tự chủ tài chính, quản lí và sử dụng các nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất đúng quy định. Kiểm soát chặt chẽ các khoản thu, chi, bảo đảm tiết kiệm và hiệu quả. Đa dạng hóa, linh hoạt và mềm dẻo trong thực hiện các hoạt động liên kết đào tạo và dịch vụ để tăng nguồn thu. Có cơ chế, chính sách thiết thực để khuyến khích các đơn vị đẩy mạnh tìm kiếm việc làm và các loại hình dịch vụ tăng nguồn thu cho Trung tâm.

Kiến nghị ĐHQGHN ưu tiên cấp tăng kinh phí hàng năm và tạo điều kiện cho Trung tâm hoạt động theo cơ chế đặc thù. Cải thiện đời sống vật chất, tinh thần và điều kiện làm việc, nâng cao thu nhập cho cán bộ, viên chức.

3.8. Tăng cường công tác truyền thông, xây dựng và quảng bá thương hiệu

Có chiến lược tổng thể trong xây dựng và quảng bá thương hiệu của Trung tâm.

Sử dụng đồng bộ và hiệu quả các phương tiện truyền thông như: báo chí, bản tin, website và các hoạt động khác, chú trọng đến vai trò truyền thông của sinh viên. Qua đó, mỗi cán bộ, sinh viên nhận thức sâu sắc việc thực hiện sứ mệnh và các mục tiêu chiến lược của Trung tâm.

          Đẩy mạnh công tác đối ngoại với các đơn vị trong và ngoài ĐHQGHN. Thường xuyên cập nhật tin, bài và hình ảnh về các hoạt động của Trung tâm lên Website.

3.9. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát

          Thực hiện phương châm lấy phát hiện, ngăn ngừa là chính, bên cạnh đó xử lí nghiêm minh những sai phạm mà cá nhân và tập thể mắc phải trong quá trình xây dựng và phát triển Trung tâm.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN      

Chiến lược phát triển Trung tâm GDQP-AN, ĐHQGHN đến năm 2020, tầm nhìn 2030 sẽ được thực hiện qua hai giai đoạn với kế hoạch 3 năm (2013-2015) và kế hoạch 5 năm (2016- 2020).

Tổ chức thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển Trung tâm đến năm 2020, tầm nhìn 2030 là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, do vậy các đơn vị trong Trung tâm tổ chức quán triệt nghiêm túc nội dung chiến lược, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch, nhiệm vụ năm học, phát huy cao tinh thần trách nhiệm, tổ chức triển khai thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược đã đề ra.

Hàng năm, Trung tâm tổ chức đánh giá kết quả thực hiện Chiến lược (vào dịp tổng kết năm học), trên cơ sở đó xác định, điều chỉnh mục tiêu, chỉ tiêu của Trung tâm trong năm học tiếp theo cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Đến năm 2020 sẽ tổ chức đánh giá toàn diện kết quả thực hiện Chiến lược làm căn cứ để xây dựng Chiến lược phát triển cho giai đoạn tiếp theo.

 

 

 

 

 

GIÁM ĐỐC

 

 

 

Nguyễn Văn Lợi